Thứ Hai, 1 tháng 2, 2016

Bệnh trĩ ở phụ nữ mang thai

Bệnh trĩ tuy không nguy hiểm đến tính mạng, nhưng nếu không điều trị kịp thời cũng ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của cả mẹ và bé. Bệnh trĩ ở phụ nữ mang thai chiếm trên 50%, vậy nguyên nhân nào khiến bệnh phổ biến ở bà bầu như vậy và có cách điều trị triệt để không?
Xem thêm:

benh-tri-o-phu-nu-mang-thai

Bệnh trĩ ở phụ nữ mang thai

Bệnh trĩ là bệnh giãn tĩnh mạch ở vùng hậu môn trực tràng gây sưng hoặc xuất huyết. Bệnh gây ngứa và khó chịu nhẹ, nếu nặng hơn sẽ gây đau đớn, thậm chí là chảy máu trực tràng.
Bệnh trĩ thường xảy ra trong thời kỳ mang thai, đặc biệt là trong 3 tháng cuối hoặc đối với những người lần đầu mang thai. Đây là một trong những triệu chứng sinh lý phổ biến khi mang thai. Tuy nhiên, nếu bạn đã bị mắc bệnh ngay từ trước khi mang thai thì bệnh sẽ có xu hướng phát triển trong những giai đoạn tiếp theo của thai kỳ, điều này cũng là mối đe dọa lớn đối với sức khỏe của bạn cũng như thai nhi.

Nguyên nhân gây bệnh trĩ ở phụ nữ mang thai

Trọng lượng ngày càng tăng của thai nhi khi phát triển trong tử cung đặt áp lực nên tất cả các mô và cơ quan nội tạng của người mẹ. Không gian dần trở nên hạn chế nên dòng máu vào và ra các tĩnh mạch để cung cấp cho xương chậu người mẹ bị di chuyển chậm và tụ lại. Các tĩnh mạch trong thành ruột bị phình và căng hết cỡ khiến chúng yếu đi.
Nội tiết tố mang thai cũng gây ra sự lỏng lẻo chung của các mô, bao gồm cả các thành tĩnh mạch. Có nghĩa là chúng không còn vững chắc như thường ngày, các thành tĩnh mạch có xu hướng sưng lên và mở rộng.
Một yếu tố khác là sự gia tăng tổng lưu lượng máu trong cơ thể người mẹ. Để có thể cung cấp cho thai nhi lượng oxi dồi dào và đầy đủ chất dinh dưỡng, lượng máu trong cơ thể bà bầu có thể tăng hơn  40% so với bình thường. Tất cả các chất lỏng này được thêm vào cơ thể, trong khi vẫn sẽ được vận chuyển bằng hệ thống tĩnh mạch và động mạch như cũ. Thông thường các van và thành mạch sẽ hoạt động mạnh hơn để bơm máu trở lại tim và phổi của người mẹ giúp nhận thêm oxi
Nếu bạn có tiền sử bệnh trĩ , nhiều khả năng chúng sẽ phát triển thêm khi bạn mang thai. Áp lực trong giai đoạn thứ II của thời kì mang thai cũng sẽ dẫn đến việc bệnh trĩ phát triển. Nếu giai đoạn hai này lâu và bị kéo dài cũng sẽ là một mối đe dọa lớn.

Đẩy lùi bệnh trĩ ở phụ nữ mang thai

Có rất ít thuốc chữa trị bệnh trĩ dành cho thai phụ. Vì vậy, hãy tham vấn bác sĩ xem bạn có thể dùng loại kem thoa, thuốc mỡ hoặc thuốc nhét hậu môn nào mà vẫn an toàn.
Bên cạnh đó bạn nên tham khảo về một số bài thuốc nam điều trị trĩ rất hiệu quả mà lại an toàn cho phụ nữ mang thai, việc điều trị cũng cần chú ý kết hợp với việc phòng tránh bệnh trĩ thì mới đạt hiệu quả tốt nhất.

Giải pháp điều trị bệnh trĩ ở trẻ em hiệu quả

Bệnh trĩ ở trẻ em khiến nhiều người đôi khi lầm tưởng là một triệu chứng bệnh khác chứ không phải trĩ. Sự thật hoàn toàn ngược lại. Trẻ em cũng là một trong những đối tượng của bệnh trĩ. Các bậc phụ huynh nên tìm hiểu về cách điều trị bệnh trĩ ở trẻ em để giúp con em mình điều trị bệnh dễ dàng và hiệu quả hơn.
Xem thêm:
Có rất nhiều các nguyên nhân gây ra bệnh trĩ, các mẹ cần lưu ý vì mức độ nguy hiểm khi bệnh biến chứng  ở trẻ em cũng  không kém người  trưởng thành. Phần lớn nguyên nhân gây ra bệnh này là do chế độ ăn  uống, vệ sinh kém…
Đồng thời, ở tuổi này, sau khi trẻ đi vệ sinh xong, hậu môn không tự động co lại nhiều, vì thế trực tràng một khi đã bị “rơi xuống” thì khó có thể lập tức co lại vị trí ban đầu, hiện tượng này gọi là bệnh trĩ. Trẻ bị bệnh trĩ nếu nhẹ, sau khi đi đại tiện, trực tràng sẽ tự động co trở lại, lặp lại nhiều lần sẽ nặng hơn, và nghiêm trọng hơn, có thể dẫn đến chảy máu, phù thũng…Trong giai đoạn phát triển, cơ hậu môn của trẻ tương đối yếu, mối liên hệ giữa trực tràng và hậu môn vẫn còn lỏng lẻo, thêm vào đó, xương cùng và trực tràng lại nằm trên cùng một đường thẳng, vì thể trực tràng dễ dàng bị di động lên phía trên. Vì thế, nếu cha mẹ không chú ý đến điểm này mà để trẻ ngồi bô quá lâu, khi trẻ dùng lực và phải nín thở, áp lực trong bụng tăng cao, trực tràng phải chịu một lực ép xuống và dễ dàng bị lòi ra ngoài khoang ruột.
cách điều trị bệnh trĩ ở trẻ em

 Cách điều trị bệnh trĩ ở trẻ em

Việc điều trị bệnh trĩ ở trẻ cần căn cứ vào đặc điểm phát triển của trẻ để áp dụng phương pháp giữ gìn bảo vệ. Cha mẹ lưu ý, ở trẻ nhỏ thường hay gặp bệnh sa trực tràng có biểu hiện rất giống với bệnh trĩ, vì vậy khi trẻ có các biểu hiện như đại tiện ra máu, khối sa đỏ tươi, thì nên nghĩ đến bệnh sa trực tràng trước.
Việc chữa bệnh trĩ ở trẻ cần căn cứ vào đặc điểm phát triển của trẻ để áp dụng phương pháp giữ gìn bảo dưỡng. Ở nhà, gia đình có thể áp dụng một trong cách sau để hạn chế tác hại của bệnh:
– Điều chỉnh chế độ ăn uống của trẻ, tránh chỉ cho ăn một loại thức ăn; nên thường xuyên cho trẻ ăn các rau củ, hoa quả tươi ngon và mật ong, để tránh cho trẻ bị táo bón.
– Hình thành thói quen đại tiện đúng giờ, tốt nhất một ngày đại tiện một lần.
– Giữ gìn vệ sinh của hậu môn, nên rửa nước nóng sau khi đại tiện và trước khi đi ngủ hoặc dùng thuốc xông hơi bên ngoài như: thuốc xông hơi tổng hợp từ cây kinh giới, …để cải thiện được tuần hoàn máu ở cửa hậu môn, hỗ trợ điều trị bệnh.
Ngoài ra một số bài thuốc đông y cũng có tác dụng rất hiệu quả trong việc điều trị trĩ cho trẻ như:
Có thể dùng loại canh có tác dụng lời khí: Hoàng kì, đảng sâm, ngũ bội tử, kha tử, bạch truật, kim anh tử, cốc nha, sơn tra mỗi loại 10g; thăng ma 3g, cam thảo 6g. Mỗi ngày một thang, đun sôi, ngày uống hai lần.ngoài ra cho thêm bột đầu ba ba 3g, mỗi ngày 2 lần. Ba ba để cả đầu, đặt trên một tấm sành, sấy khô, nghiền thành bột.
- Trị liệu ngoài: Có thể sử dụng 5 loại bột thuốc: Ngũ bội tử 12g, con hàu, long cốt, mỗi loại 12g, chỉ thực 3g. Bốn vị thuốc đầu nghiền chung thành bột mịn, sau đó cho bạch dược Vân Nam vào trộn lẫn, dùng bôi ngoài. Đầu tiên người bệnh ngồi ngâm trong nước muối ấm nồng độ 3%, sau đó dùng thuốc bội ngoài, sau đó lại dùng hỗn hợp bột rắc lên một lớp mỏng trên bề mặt lớp loét, sau đó nằm nghỉ khoảng một giờ, thông thường dùng 3- 5 ngày thì sẽ khỏi. Hoặc dùng dung dịch được chế biến từ thảo mộc: Vỏ quả lựu, ngũ bội tử, phèn chua nghiền thành bột mịn, sắc nước, dùng để rửa ngoài hậu môn, mỗi ngày 2 lần, hiệu quả rất nhanh.
Trên đây là một số giải pháp điều trị bệnh trĩ ở trẻ em hiệu quả. Hãy luôn biết cách chăm sóc tốt cho con em mình để trẻ có thể phát triển toàn diện

Phương pháp chữa bệnh trĩ ngoại

Trĩ ngoại là do chùm tĩnh mạch ngoài bị giãn , gấp khúc tạo nên. Nó nằm phía dưới vùng lược, có thể nhìn thấy, không thể đưa và trong hậu môn, thường không chảy máu. Hiện nay, y học đã có nhiều phương pháp chữabệnh trĩ ngoại, bạn có thể tham khảo các phương pháp đó trong bài viết dưới đây.
Xem thêm:
Chữa bệnh trĩ ngoại
Chữa bệnh trĩ ngoại

Chữa bệnh trĩ ngoại

Bạn có thể sử dụng thuốc để điều trị bệnh trĩ ở giai đoạn đầu, có hai loại là thuốc uống và thuốc đặt vào trong hậu môn.

- Thuốc uống:

Đây là thuốc chứa các hoạt chất Rutin (còn gọi là vitamin P) hoặc các chất được trích từ thực vật được gọi chung là Flavonoid; có tác dụng điều hòa tính thẩm thấu và tăng sức bền chắc thành của các tĩnh mạch, do đó làm giảm phù nề, giảm sung huyết các tĩnh mạch ở vùng trĩ. Do tác động đến tĩnh mạch nên thuốc ngoài chữa trĩ còn dùng để trị chứng suy, dãn tĩnh mạch, đặc biệt bị ở chi dưới như tê chân, nổi gân xanh. Có thể kể một số biệt dược dùng để uống như: Ginkgo Fort, Flebosmil, …
Chú ý: tùy từng tình trạng của mỗi người mà bác sĩ sẽ tư vấn cho bạn liều lượng cũng như các loại thuốc khác nhau vì vậy bạn không nên tự ý mua thuốc sử dụng nếu chưa có sự chỉ dẫn của bác sĩ.

- Thuốc đặt hậu môn:

Thường thì áp dụng cho các trường hợp mắc bệnh trĩ nội có thể đặt vào hậu môn hoặc bôi lên vùng bị tổn thương. Thuốc có tác dụng như giảm đau, chống viêm, kháng sinh, hoạt chất bảo vệ làm bền chắc tĩnh mạch, ngoài ra còn chứa các vitamin, chất bổ dưỡng giúp tổn thương mau lành. Cách dùng thường là đặt thuốc đạn hoặc bôi thuốc mỡ 2-3 lần trong ngày, nên đặt hoặc bôi sau khi đi tiêu và tối trước khi ngủ.

- Bạn có thể sử dụng một số bài thuốc trị trĩ từ thảo dược rất dễ tìm và cũng khá hiệu quả như sau

Thảo dược trị bệnh trĩ chính là diếp cá (còn gọi là ngư tinh thảo) : Các hoạt chất trong diếp cá là quercetin, isoquercetin có tác dụng lợi tiểu mạnh, đồng thời làm bền chắc mao mạch. Tinh dầu diếp cá chứa decanonyl acetaldehyde có tác dụng kháng viêm, kháng khuẩn mạnh (ức chế tụ cầu vàng, liên cầu, trực khuẩn lỵ…). Vì vậy diếp cá được dùng trị táo bón, bệnh trĩ rất hiệu quả và để chữa viêm ruột, kiết lỵ, bí tiểu tiện, mụn nhọt, lở ngứa…
Thứ đến là  củ nghệ tươi: Dân gian coi nghệ là vị thuốc có tác dụng hàn gắn vết thương nên thường bôi lên các mụn nhọt sắp khỏi để mau liền miệng, lên da non và không để lại sẹo xấu. Củ nghệ có khả năng kháng viêm, giảm nguy cơ nhiễm trùng.
Quả sung: Theo Đông y, quả sung có tính bình, vị ngọt, có tác dụng kiện tỳ thanh tràng (tăng cường tiêu hóa, sạch ruột), tiêu thũng, giải độc, có thể sử dụng chữa viêm ruột, kiết lị, bí đại tiện, trĩ, đau họng, mụn nhọt, mẩn ngứa… Quả sung chứa nhiều loại vitamin, fractoza và dextroza…là loại quả tuyệt vời cho những ai mắc phải chứng táo bón (nguyên nhân sinh ra bệnh trĩ).

- Phẫu thuật là biện pháp cuối cùng bạn có thể nghĩ đến.

Trĩ ngoại không có chỉ định điều trị thủ thuật và phẫu thuật trừ khi có biến chứng nhiễm trùng, lở loét hay tắc mạch tạo thành những cục máu đông nằm trong các búi trĩ. Điều trị bằng phẫu thuật như cắt bỏ bóc tách huyết khối trĩ ngoại, cắt bỏ mô liên kết trĩ ngoại, giãn tĩnh mạch trĩ ngoại, cắt bỏ viêm bên ngoài. Mục đích là loại bỏ bệnh trĩ hoặc dùng phương pháp thắt khiến cho mạch máu bị tắc hoặc ép phổi. Đốt điện hoặc laser chiếu xạ cũng có hiệu quả rất tốt.

Để chữa bệnh trĩ bằng rau diếp cá bạn cần phải kiên trì

Bệnh trĩ là một căn bệnh khó nói vì đa số người bệnh hay thấy ngại ngùng khi nhắc tới với người khác. Mặc dù đây không phải là bệnh nguy hiểm ảnh hưởng tới tính mạng nhưng nó lại là bệnh gây ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng cuộc sống. Hiện nay cùng với thói quen sinh hoạt và chế độ dinh dưỡng không hợp lý đang khiến cho tỉ lệ mắc bệnh trĩ đang ngày một gia tăng.
Xem thêm:
Đây là bệnh hoàn toàn có thể chữa được bằng cả tây y và đông y. Tuy nhiên bạn hoàn toàn có thể áp dụng những phương pháp dân gian vừa rẻ tiền lại đem tới kết quả ngoài sức mong đợi.

Chữa bệnh trĩ bằng hoa thiên lý

Hoa thiên lý bên cạnh là một thực phẩm có thể chế biến thành món canh và món xào rất ngon thì trong đông y loài hoa này còn sử dụng cả lá và hoa để làm thuốc chữa bệnh trĩ hiệu quả. Thiên lý có tác dụng trong việc giải nhiệt cơ thể bên trong khi bị trĩ nội, giảm cảm giác rát ở hậu môn và chảy máu.
Hoa thiên lý được biết tới với công dụng chữa bệnh trĩ hiệu nghiệm
Hoa thiên lý được biết tới với công dụng chữa bệnh trĩ hiệu nghiệm
Để áp dụng bài thuốc này bạn dùng 100g lá thiên lý đem rửa sạch và 5g muối. Lá thiên lý non đem giã cùng với muối, rồi cho thêm 30ml nước đun sôi còn ấm, lọc qua màn vải hoặc gạc. Hỗn hợp này thấm vào bông đắp lên vị trí búi trĩ lòi ra, ngày áp dụng 1 đến 2 lần, đồng thời kết hợp cùng với nước lá thiên lý tươi khoảng 3 đến 4 bát mỗi ngày.

Chữa bệnh trĩ bằng rau diếp cá

Để chữa bệnh trĩ bằng rau diếp cá bạn cần phải kiên trì
Để chữa bệnh trĩ bằng rau diếp cá bạn cần phải kiên trì
Với bài thuốc chữa trĩ bằng rau diếp cá đòi hỏi người bệnh cần phải kiên trì mới đem lại hiệu quả. Loại rau này có tác dụng rất tốt trong việc giải nhiệt và được coi là thảo dược tốt cho người bệnh trĩ. Đem rau diếp đi rửa sạch và ngâm trong nước muối 5 phút rồi để cho ráo nước ăn sống hàng ngày trong bữa ăn. Bên cạnh đó để đem lại hiệu quả tốt hơn thì bạn có thể nấu lá diếp cá cùng với nước nóng và xông, khi nước ấm thì ngâm. Phần bã diếp cá đem đắp lên búi trĩ cho người bệnh.
Chữa trĩ bằng đu đủ xanh
Đu đủ xanh được ví như một thần dược giúp chữa bệnh trĩ rẻ tiền lại hiệu quả
Đu đủ xanh được ví như một thần dược giúp chữa bệnh trĩ rẻ tiền lại hiệu quả
Đu đủ xanh ngoài là thực phẩm thì nó cũng là một bài thuốc giúp chữa bệnh trĩ tuyệt hay mà bạn có thể áp dụng. Đem cắt đôi quả đu đủ xanh vẫn còn tươi còn trước giờ đi ngủ bạn úp 2 nửa quả đu đủ vào hai bên cẳng chân, cứ để như vậy qua đêm. Cùng với việc áp dụng phương pháp này cũng giống như bạn bôi thuốc co mạch trực tiếp lên cái búi trĩ. Sau khi thấy những búi trĩ biến mất có thể ngừng. Ngoài ra bạn có thể nấu đu đủ xanh thành canh uống hàng ngày cũng giúp cho hệ tiêu hóa được hoạt động tốt hơn.

Xuất huyết giảm tiểu cầu là căn bệnh thường gặp

Xuất huyết giảm tiểu cầu là một trong những căn bệnh thường gặp. Bệnh biểu hiện dưới nhiều cấp độ khác nhau. Nhẹ thì xuất huyết dứơi da. Trường hợp nguy hiểm có khả năng dẫn tới xuất huyết nội tạng hay xuất huýêt não, có thể gây tử vong hoặc để lại di chứng cho bệnh nhân suốt đời.
Xem thêm:
bệnh xuất huyết giảm tiểu cầu

Triệu chứng của xuất huyết giảm tiểu cầu

Nhẹ: Xuất huyết dưới da dưới dạng chấm nhỏ li ti, dạng nốt như muỗi đốt hoặc thành đám, mảng lớn, khu trú ở một vài nơi hoặc rải rác khắp người; xuất huyết niêm mạc như chảy máu nướu răng, chảy máu cam, giác mạc.
Nặng: Có thể xuất huyết bất kỳ nơi nào như chảy máu đường tiêu hóa; tiết niệu, sinh dục… Biến chứng nguy hiểm nhất là xuất huyết não – màng não.

Nguyên nhân bệnh xuất huyết giảm tiểu cầu

Rất phức tạp. Các nguyên nhân xác định được như: Do bị các bệnh nhiễm trùng nặng, nhiễm ký sinh trùng (sốt rét…), nhiễm siêu vi trùng (cúm, sởi, quai bị, viêm gan siêu vi…). Các bệnh có lách to (xơ gan, cường lách). Các bệnh tự miễn (ban đỏ rải rác, viêm nút động mạch, viêm đa khớp dạng thấp). Các bệnh về máu (suy tủy xương, xơ tủy, ung thư máu, ung thư hạch, ung thư nơi khác xâm lấn vào tủy xương; thiếu máu tiêu huyết tự miễn…) Ngoài ra, còn phải kể đến các trường hợp giảm tiểu cầu do thuốc (một số thuốc cảm cúm, an thần, hạ nhiệt, kháng sinh, thuốc nam, thuốc bắc không rõ loại…) và do độc chất. Nhiều trường hợp giảm tiểu cầu không xác định được nguyên nhân còn gọi là xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn. Ngày nay, có nhiều bằng chứng kết luận do nguyên nhân tự miễn, nên còn gọi là giảm tiểu cầu miễn dịch (PTT).

Chẩn đoán bệnh xuất huyết giảm tiểu cầu

Cần phải được làm các xét nghiệm chẩn đoán đầy đủ trước tình trạng xuất huyết tự phát: Huyết đồ (kiểm tra số lượng tiểu cầu nhiều lần); tủy đồ; đông máu toàn bộ, các xét nghiệm về chức năng gan, thận.

Ðiều trị xuất huyết giảm tiểu cầu

- Tránh tất cả các thủ thuật chọc dò, phẫu thuật, nhổ răng, tiêm chích trong cơ.
- Truyền tiểu cầu chỉ là phương thức điều trị thay thế, tạm thời để cầm máu hoặc đề phòng biến chứng xuất huyết nặng, nguy hiểm có thể xảy ra.
1. Các trường hợp có căn nguyên: Ðiều trị chủ yếu theo căn nguyên. 
2. Các trường hợp không có căn nguyên (PTI): Các loại corticoides là thuốc lựa chọn hàng đầu, chủ lực. Cắt lách được chỉ định khi bệnh trở thành mãn tính phải phụ thuộc vào corticoides hoặc không còn đáp ứng với corticoides. Sau cắt lách, nếu tái phát, có thể phối hợp với các loại thuốc ức chế miễn dịch khác như: Immuran, Purinéthol, Vincristin, Endoxan…
Đây là căn bệnh nguy hiểm nhưng không phải là không có cách đối phó. Chỉ cần bệnh nhân cẩn thận trong sinh hoạt, không chạy nhảy hay vận động mạnh, không ăn những vật cứng (mía, xương…), không đánh răng hoặc xỉa răng… Nếu bệnh nhân là trẻ em gia đình phải tuyệt đối tránh tình trạng trừng phạt các em bằng đòn roi. Như vậy sẽ hạn chế được rất nhiều những nguy hiểm mà căn bệnh đem đến.
Khi thấy những triệu chứng như: thâm quầng, sưng tấy, xuất huyết (răng, mũi, ngoài da…), đau đầu không rõ nguyên nhân phải nhập viện ngay để kịp thời điều trị. Có thể truyền khối tiểu cầu vào cơ thể bệnh nhân nếu lượng tiểu cầu giảm nhiều, hoặc cầm máu tại chỗ (bằng những biện pháp đặc biệt) và dùng thuốc đặc trị kết hợp với các loại vitamin để nâng cao thể trạng.
Đây không phải bệnh di truyền, nhưng là chứng bệnh hay tái phát nên muốn điều trị ổn định, bệnh nhân phải có kế hoạch khám định kỳ hằng tháng để kịp thời theo dõi diễn biến của bệnh. Trên cơ sở đó y bác sĩ sẽ đưa ra hướng điều trị thích hợp cho từng bệnh nhân. Nhiều trường hợp nhờ điều trị đúng cách bệnh nhân đã khỏi hẳn

Các cách điều trị bệnh da hồng cầu

Bệnh đa hồng cầu là một dạng bệnh tăng sinh tủy. Tủy xương hoạt động quá mạnh, tạo ra quá nhiều tế bào máu, trong đó hồng cầu chiếm ưu thế làm cho máu bị cô đặc (tăng độ quánh) và có nguy cơ bị tắc ngẽn trong hệ tuần hoàn. Đó là một bệnh do một dòng tế bào bất thường (một clon) bị thay đổi gen gây ra. Đó là một loại ung thư máu thuộc dòng hồng cầu, tiến triển chậm.
Xem thêm:
Triệu chúng của bệnh bao gồm: Mất sức, sụt cân, nhứt đầu, chóng mặt, ù tai, rối loạn tâm lý, loét hoặc xuất huyết tiêu hóa, lách to, tê rần nửa người, liệt một chi hoặc nửa người…
Bệnh tiến triển chậm, nếu điều trị tốt bệnh nhân có thể sống bình thường trong nhiều năm.

Điều trị bệnh da hồng cầu, gồm có:

– Lấy bớt hồng cầu: bằng cách rút bỏ bớt máu có định kỳ và theo dõi công thức máu.
– Dùng Hoá trị liệu: thuốc Hydroxyurea (viên 500mg) uống và điều chỉnh liều để giữ hồng cầu trong mức ổn định bình thường.
Trên những bệnh nhân điều trị bệnh lâu dài, có thể xảy ra các biến chứng:
– Thống phong (gút), xuất huyết và huyết khối (mạch máu tim và não).
– Sau cùng, bệnh tiến triển thành xơ tủy, loạn sinh tủy, suy tủy do thuốc điều trị, và có thể biến thành leucemi cấp.
PGS. BS. Trần Văn Bình
 Đa hồng cầu được xác định là một hội chứng trong đó sự tăng số lượng hồng cầu máu ngoại vi, phát hiện được bằng cách đếm số lượng hồng cầu.
Từ khi áp dụng crôm phóng xạ vào huyết học, người ta đã đánh dấu được hồng cầu và tìm được một phương pháp chẩn đoán tốt nhất để đo thể tích hồng cầu toàn thể và nhờ vậy phân biệt được đa hồng cầu tuyệt đối và đa hồng cầu tương đối.
Bệnh có các biểu hiện thường thấy như có rối loạn tuần hoàn nhẹ, đỏ da, mệt mỏi, suy nhược, đau nhiều nơi trong cơ thể, nhức đầu, chóng mặt, ù tai, giảm thị lực, chảy máu chân răng…
Những biểu hiện nguy hiểm ở mạch máu như tắc tĩnh mạch chi dưới, nhồi máu cơ tim, nhồi máu não, chảy máu đường tiêu hóa…
Những người sống ở vùng núi cao có thể bị đa hồng cầu nhưng cơ thể họ thích nghi được. Phi công sống nhiều ngày trên cao cũng có thể bị đa hồng cầu nhưng chỉ trong một khoảng thời gian ngắn và ít khi có biểu hiện bệnh. Bệnh gặp ổn định hơn ở những người có tăng huyết áp, béo phì, có bệnh động mạch vành, do khối u…
Điều trị căn bệnh này phải loại bỏ được nguyên nhân, các biện pháp có thể là lấy bớt hồng cầu, ức chế sự sinh sản hồng cầu ở tuỷ bằng thuốc.

Thứ Bảy, 30 tháng 1, 2016

Điều trị chữa bệnh đái tháo đường bằng thảo dược

Đái tháo đường là gì ? Đái tháo đường là một bệnh mãn tính do rối loạn chuyển hóa carbon hydrat dẫn đến tình trạng thiếu hụt tương đối hoặc tuyệt đối insulin – loại hooc môn nội tiết tố giúp vận chuyển đường glucose trong máu đi vào các tế bào, biểu hiện của đái tháo đường là lượng đường trong máu luôn tăng cao. Đái tháo đường xếp hàng thứ 10 nằm trong các nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở hầu hết các quốc gia trên thế giới
Xem thêm:
Đái tháo đường

Phân loại đái tháo đường

Đái tháo đường tuýp 1

Đái tháo đường tuýp 1 là dạng tiểu đường phụ thuộc vào insulin phát sinh do hệ thống miễn dịch của cơ thể nhầm lẫn đã tấn công vào các tế bào của tuyến tụy làm cho các tế bào của tuyến tụy không thể sản xuất ra insulin. Khi không có insulin các tế bào trong cơ thể sẽ không sử dụng được đường glucose, do đó lượng đường glucose trong máu sẽ tăng cao. Vì vậy bệnh nhân tiểu đường tuýp 1 phải được tiêm insulin để duy trì cuộc sống. Đối tượng mắc Đái tháo đường tuýp 1 thường là trẻ em và thanh thiếu niên. Đái tháo đường tuýp 1 chiếm khoảng 15%.

Nguyên nhân đái tháo đường tuýp 1

–    Đái tháo đường tuýp 1 do yếu tố di truyền: Yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng trong việc xác định ai là người có khả năng phát triển bệnh tiểu đường tuyp 1. Gen được truyền từ bố mẹ cho con. Gen giúp thực hiện tạo ra các Protein cần thiết cho hoạt động của các tế bào. Tuy nhiên một số biến thể gen hoặc một vài nhóm gen tương tác với nhau tạo nên nguyên nhân chính của bệnh tiểu đường.
–    Đái tháo đường tuýp 1 do hệ thống miễn dịch: Các tế bào bạch cầu trong hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công tế bào beta. Chính lý do này làm cho tuyến tụy suy giảm hoặc mất hẳn chức năng sản xuất insulin.
–    Đái tháo đường tuýp 1 do yếu tố môi trường, thực phẩm, vi khuẩn, virus và các độc tố: Chính các yếu tố này gây ra sự phá hủy tế bào beta của tuyến tụy gây nên bệnh lý

Đái tháo đường tuýp 2

Đái tháo đường tuýp 2 chiếm tỷ lệ khoảng 85%, thường gặp ở người trên 30 tuổi. Nhưng ngày nay nó càng gặp nhiều ở trẻ em và thanh thiếu niên. Đặc trưng của đái tháo đường tuýp 2 là sự kháng insulin đi kèm với thiếu hụt tiết insulin tương đối. Đái tháo đường tuýp 2 thường được chẩn đoán rất muộn vì giai đoạn đầu tăng glucose máu tiến triển âm thầm không có triệu chứng. Khi có biểu hiện lâm sàng thường kèm theo các rối loạn khác về chuyển hóa lipid, các biểu hiện bệnh lý về tim mạch, thần kinh, thận. Béo phì và ít hoạt động thể lực là yếu tố nguy cơ của đái tháo đường typ 2. Bệnh cũng thường xảy ra với những người có tiền sử đái tháo đường trong gia đình. Người mắc bệnh đái tháo đường tuýp 2 có thể điều trị bằng cách thay đổi thói quen sống, kết hợp với việc dùng thuốc để kiểm soát đường huyết hoặc dùng insulin.

Nguyên nhân đái tháo đường tuýp 2

–    Đái tháo đường tuýp 2 do yếu tố di truyền: Gen đóng vai trò quan trọng đối với bệnh tiểu đường loại 2. Gen hoặc những nhóm gen biến thể có thể tác động làm suy giảm khả năng sản xuất insulin của tuyến tụy.
–   Đái tháo đường tuýp 2 do béo phì và lười vận động: Do dư thừa Calo, mất đi sự cân đối calo với hoạt động của cơ thể gây tình trạng kháng insulin. Khi nạp quá nhiều dinh dưỡng vào cơ thể mà không có chế độ vận động hợp lý sẽ tác động tới tuyến tụy và gây áp lực ép tuyến tụy phải sản xuất insulin, trong thời gian dài tuyến tụy sẽ suy yếu và mất dần đi khả năng sản xuất insulin gây nên bệnh tiểu đường.

Đái tháo đường cùng những biến chứng

Biến chứng cấp tính ở bệnh nhân đái tháo đường : thường là hậu quả của việc chẩn đoán muộn, nhiễm khuẩn cấp tính hoặc điều trị không thích hợp:
Nhiễm toan ceton: Biến chứng nhiễm toan ceton hay gặp ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 1. Biểu hiện bằng rối loạn nhịp thở kiểu Kusssmal, hơi thở có mùi ceton, da khô, có thể có hôn mê, huyết áp hạ, nhịp tim nhanh. Mặc dù y học hiện đại đã có nhiều tiến bộ về trang thiết bị, điều trị và chăm sóc, nhưng tỷ lệ tử vong vẫn cao từ 5 – 10%.
Hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu máu: hay xảy ra ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2, nữ, trên 60 tuổi. Biểu hiện bằng dấu hiệu mất nước nặng, huyết áp tụt và hôn mê. Đặc điểm chủ yếu để phân biệt với nhiễm toan ceton là không có nhịp thở kiểu Kussmal, hơi thở không có mùi ceton và xét nghiệm rất ít hoặc không có thể ceton trong nước tiểu. Hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu chiếm 5 – 10% bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 và tỷ lệ tử vong ở người cao tuổi đái tháo đường tuýp 2 là 30 – 50 %.
Hạ đường huyết: Thường gặp tai biến hạ đường huyết ở những bệnh nhân dùng thuốc đái tháo đường quá liều hoặc dùng thuốc cho bệnh nhân lúc đói, bỏ bữa. Dấu hiệu chính là vã mồ hôi, choáng váng, hoa mắt, lơ mơ, co giật hoặc hôn mê.
Biến chứng mạn tính ở bệnh đái tháo đường
Biến chứng tim mạch: bệnh mạch vành (xơ vữa động mạch, đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim), tăng huyết áp vừa là yếu tố nguy cơ vừa là hậu quả của đái tháo đường, rối loạn lipid máu làm tăng nguy cơ các bệnh mạch vành.
Bệnh lý thận : giảm mức lọc cầu thận gây suy thận.
Bệnh lý mắt: Các vi mạch tại mắt bị tổn thương do tiếp xúc đường huyết cao và áp lực thành mạch lớn, gây ra bệnh võng mạc đái tháo đường và đục thủy tinh thể. Đây là nguyên nhân dẫn đến giảm thị lực và mù ở người đái tháo đường.
Bệnh lý thần kinh: Bệnh lý thần kinh ở bệnh nhân đái tháo đường thường do tắc nghẽn các vi mạch cung cấp máu cho hệ thần kinh, gây ra các tổn thương về thần kinh ngoại biên như viêm đa dây thần kinh hoặc viêm một dây thần kinh, liệt dây thần kinh sọ não, rối loạn thần kinh thực vật (hạ huyết áp tư thế, nhịp tim nhanh lúc nghỉ).
Biến chứng nhiễm trùng: làm mất cân bằng đường máu, dễ dẫn đến các biến chứng cấp tính như hôn mê do nhiễm toan ceton hay tăng áp lực thẩm thấu máu. Bệnh nhân dễ bị nhiễm khuẩn và khi bị nhiễm khuẩn thường rất nặng, do da bị tổn thương bởi thần kinh cảm giác suy giảm, kèm theo giảm thị lực dẫn đến không cảm nhận được các vết xước. Các bệnh nhiễm khuẩn hay gặp: viêm răng lợi, viêm ống tai ngoài, lao phổi, viêm tủy xương, viêm hoại tử ở chi do E.coli hoặc vi khuẩn kị khí, nấm da và niêm mạc.
Bệnh lý bàn chân do đái tháo đường: loét bàn chân và cẳng chân. Khi nhiễm trùng ổ loét có thể không lành được phải cắt cụt chi.
Tổn thương khớp: khô và cứng khớp, hạn chế vận động.

Cách điều trị đái tháo đường

Điều trị đái tháo đường không dùng thuốc

Chế độ ăn uống cho người bệnh đái tháo đường:
– Nhu cầu năng lượng cần được điều chỉnh để đạt và duy trì cân nặng lý tưởng, tùy thuộc giới, tuổi, hoạt động thể lực, lối sống bệnh nhân.
– Đái tháo đường typ 1: chế độ ăn phải tính đủ calo để duy trì cân nặng hợp lý và phù hợp với số lần, loại insulin đưa hàng ngày.
– Đái tháo đường typ 2 béo phì cần chế độ ăn giảm cân, ăn ít calo (Nữ giới 1000 – 1200 Kcal/ngày, nam giới 1200 – 1600 Kcal/ngày)
– Chế độ ăn ít béo, nhiều chất xơ, đảm bảo đủ vitamin, khoáng, carbonhydrat chiếm khoảng 45 – 65% tổng số calo/ngày.
– Giảm cân vừa phải đã được chứng minh là giảm nguy cơ tim mạch, cũng như hạn chế sự tiến triển xấu của đái tháo đường. Phương pháp chính để giảm cân là thay đổi lối sống. Nên giảm từ từ, khoảng 0,45 – 0,91 kg/tuần.
Vận động thể lực
Luyện tập rất cần thiết đối với bệnh nhân đái tháo đường, đặc biệt là typ 2, vì luyện tập giúp giảm cân, giảm kháng insulin, cải thiện dung nạp glucose và cải thiện nồng độ lipid máu, giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Luyện tập tùy lứa tuổi và tình trạng tim mạch bệnh nhân. Khởi đầu với người ít vận động nên bắt đầu với đi bộ, bơi lội, và đi xe đạp. Đồng thời, làm vườn và dọn dẹp nhà cửa cũng rất tốt. Nên hoạt động ngoài trời mỗi ngày 30 phút.
Các nghiên cứu cho thấy thay đổi lối sống, bao gồm cả tập thể dục (30 phút/ngày, 5 ngày/tuần) và trung bình giảm 5% -10% trọng lượng cơ thể sẽ làm giảm khả năng phát triển bệnh đái tháo đường 58% ở bệnh nhân có nguy cơ tiểu đường cao.

Điều trị chữa bệnh đái tháo đường bằng thảo dược

– Mướp đắng (Momordica charantia), họ Bầu bí Cucurbitaceae: chứa lectin có tác dụng giống insulin, làm giảm glucose máu.
– Bồ công anh (Taraxacum officinale): làm giảm glucose máu.
– Cây cửu lý hương của dê (Galega officinalis), họ đậu (Fabaceae): được dùng từ thời cổ đại để giảm các triệu chứng của bệnh tiểu đường.
– Dây kí ninh (Tinospora cordifolia)
– Nghệ (Curcuma longa)
– Dây thìa canh (Gymnema sylvestre): chữa ĐTĐ, tăng bài xuất đường khỏi tụy, hồi phục chức năng tụy, kích thích tuần hoàn, tăng bài tiết nước tiểu.
– Dừa cạn (Catharanthus roseus): giảm glucose máu
– Nhân sâm (Panax ginseng)